naked celebrities
celebrity sex tapes
nude celebrities

Tam Pháp Ấn

Email In

                                                                       TAM PHÁP ẤN
A.    DẪN NHẬP.
Trong cuộc sống, con người thường có xu hướng chấp chặt, bám víu vào những gì mà mình yêu thích với mong muốn nó sẽ tồn tại cùng ta mãi mãi và chán ghét những điều trái ý nghịch lòng, mong rằng nó đừng xuất hiện bên ta. Nhưng cuộc đời không như họ tưởng, vạn vật từ tâm, sinh lý của con người cho đến hoàn cảnh xung quanh ta luôn luôn sanh diệt biến đổi trong từng sát na. Do đó, những ý niệm chấp ngã : Đây là tôi, đây là sở hữu của tôi sẽ bị quy luật biến hoại của thời gian làm cho đau khổ.  Hiểu rõ thực chất của cuộc đời chính là biết rõ về Vô thường (Anitya), Khổ ( Dukkha ) và Vô ngã ( Anatma ). Đây là Ba Pháp Ấn giúp người học Phật dễ dàng nhận ra sự hiện diện của chánh pháp do Đức Thế Tôn thuyết giảng.

B.    NỘI DUNG.

I. Định Nghĩa.
ẤN: là khuôn dấu, là chiếc ấn , nhằm chứng thực giá trị hiện hữu của sự vật, sự việc mà tác giả đã tạo ra nó. PHÁP là chánh pháp của Đức Thế Tôn, được Ngài nói ra trong suốt 45 năm hoằng hóa, và được chư vị thánh Tăng kiết tập lại trong ba tạng giáo điển – Kinh, Luật, Luận. Pháp Ấn là khuôn dấu của chánh pháp.
Như vậy, Tam Pháp Ấn là ba khuôn dấu của chánh pháp, gồm: Vô Thướng, Khổ và vô ngã. Ba khuôn dấu này xác định tính chân thật, tính truyền thống giáo pháp mà Đức Thế Tôn đã dạy; giúp cho ngưới tu học và nghiên cứu giáo lý Phật Đà biết đượcđâu là chánh pháp, đâu là phi chánh pháp.
II. NỘI DUNG TAM PHÁP ẤN.
1/ Pháp Ấn thứ nhất: VÔ THƯỜNG ( Anitya ).
Vô thường là sự sinh diệt, biến đổi không ngừng của vạn vật, từ cơ thể vật lý, các hiện tượng tâm lý của con người, cho đến đại địa sơn hà, vũ trụ vạn hữu; không một pháp nào tồn tại mộtcách vĩnh cửu, hoặc ở mãi một trạng thái cố định. Vô thường được chia ra làm ba phần: thân vô thường, tâm vô thường, hoàn cảnh vô thường.
a/ Thân vô thường.
Ngay từ khi tượng hình trong thai mẹ, thai nhi lớn dần lên với sự hình thành và hoàn thiện của lục căn. Khi chào đời cho đến trưởng thành, rồi già và chết, con người không ai thoát khỏi cảnh sanh, lão, bịnh, tử. Khoa học đã chứng minh , ngay trong cơ thể chúng ta có hàng tỷ tế bào cấu tạo nên, và trong một phút có hàng triệu tế bào diệt đi và hàng triệu tế bào khác sanh ra. Chính vì vậy chúng ta mới lớn lên theo thời gianvà già, chết theo năm tháng. Sinh lão bịnh tử là quy luật tất yếu không thể khác hơn của kiếp người.
b/ Tâm vô thường.
Trong khi cơ thể biến đổi, sanh diệt trong từng sát na để trưởng thành và biến hoại theo thời gian thì tâm lý con người cũng luôn thay đổi. Niêm niệm tương tục không gián đoạn. Cổ nhân thường ví sự sanh diệt của tâm lăng xăng như vượn chuyền cành, như ngựa không cương. Sự biến đổi, sanh diệt của nội tâm rất phức tạp và khó nắm bắt. Kinh Pháp cú dạy “ tâm kẻ phàm phu cứ lén lút đi một mình, đi rất xa, không hình không bóng. . .”. người tu hành điều phục được thân đã là khó; mà điều phục được tâm mình lại càng vô vàn khó khăn hơn. Dù cho có khó khăn đến đâu, việc cốt yếu của người tu hành cũng là điều phục tâm mình, không để nó tự do phóng túng, buông lung theo điều quấy ác.
“Tâm khó thấy, tế nhị
Theo các dục quay cuồng
Người trí phòng hộ tâm
Tâm hộ an lạc đến”
                    ( Pháp cú 36)
c/ Hoàn Cảnh Vô Thường.
Hoàn cảnh là môi trường sống xung quanh chúng ta. Từ những vật vi tế, mắt thường không nhìn thấy được  như vi trùng, các “hạt” không khí. . . Cho đến sơn hà đại địa, tất cả không một vật nào có thể đứng yên ở trạng thái ban đầu và tồn tại vĩnh viễn. Không khí thì bị con người làm cho ô nhiễm đền mức báo động, trên khoảng không bao la kia, có vô số hành tinh đang hình thành và hoại diệt. Trái đất mà chúng ta đang sống cũng không thoát khỏi cảnh thành trụ, hoại, không. Ôn Như Hầu nói:
“ Vô thường đến cả sơn khê
Tang thương đến cả hoa kia cỏ này
Tuồng tạo hóa đã bày ra đấy
Kiếp phù sinh trông thấy mà đau”.
Cụ nguyễn Du cũng nhận thấy:
“Trải qua một cuộc bể dâu
những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.
Không chỉ Phật Giáo mới nói đến vô thường, mà người đời cũng nhận ra điều đó, nhất là các triết gia, các thi hào . . . những người đi sâu vào đời sống nội tâm, có nhiều ưu tư về sự tạm bợ của kiếp người. Nhưng họ chỉ nhìn thấy vô thường trên mặt hiện tượng, nghĩa là họ hoàn toàn thụ động trước sự biến hoại của kiếp người, không có cách nào thoát khỏi những mất mát đau khổ do vô thường mang lại và chỉ biết ngồi thở than. Đạo Phật nói vô thường là nói lên hiện thực của cuộc đời mà nguyên nhân dẫn đến đau khổ là do chúng sanh khởi lên tham ái, chấp thủ”là ta, là của ta, là tự ngã của ta”. Đức Phật chỉ dạy sự vô thường để chúng sanh nhận thấy sự mong manh của các pháp, từ đó xa rời sự chấp thủ và tu  tập hướng tâm mình đến sự chơn thường bất diệt, đó là Phật tánh sáng suốt hiện hữu nơi mỗi chúng sanh từ lâu bị vô minh phiền não che mờ. Cái mà Trần Nhân Tông gọi là:
“Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền”.
Hoặc sự nhìn nhận của Mãn Giác thiền sư:
“ Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai”.
Vâng! Mặc dù mọi vật đều chuyển biến sinh diệt, thời tiết thay đổi theo bốn mùa,nhưng cành mai của Mãn Giác vẫn tỏa ngát hương xuân, không bị không gian và thời gian chi phối.
2/ Pháp Ấn Thứ Hai: KHỔ( Dukkha).
Khổ , nguyên nghĩa đen nó có nghĩa là đắng; người xưa thường lấy những vị đắng chát chua cay để chỉ những khổ đau mà con người gặp phải. Nghĩa bóng là những điều khó chịu, trái ý nghịch lòng, những phiền muộn , ưu tư mà con người phải trải qua trong cuộc sống.
 Đức Phật định nghĩa: “sanh là khổ, già là khổ, bịnh là khổ , chết là khổ, sầu bi là khổ, ưu não là khổ, oán thù gặp nhau là khổ, thương yêu phải chia ly là khổ, cầu mong không được là khổ. Tóm lại, chấp thủ Năm uẩn là khổ”. ( Tương Ưng V, phẩm Chuyển Pháp Luân). Đây chính là Bát khổ chúng ta thường đề cập, gồm:
- Sanh khổ: Đế Phân Biệt Tâm Kinh, Trung bộ III định nghĩa: “ Mỗi  loài chúng sanh, trong từng giới loại, sự xuất sản, xuất sanh, xuất thành, tái sanh, sự xuất hiện các uẩn, sự hoặch đắc các căn gọi là sanh”
Về con người, phải cósự kết hợp của cha mẹ, thai nhi mới tượng hình. Trong thời gian chín tháng trong lòng mẹ, đối với thai nhi là cả một thời gian dài đầy khó khăn, hãi hùng. Khi thì phải chịu sự nóng bức, lúc gặp phải sự lạnh cóng, theo chuyển biến trong cơ thể người mẹ. Thức ăn, đồ uống và những biến chuyển về tâm lý, vật lý đều có ảnh hưởng mạnh vào thai nhi. Lúc sinh, do vì sức ép và sự thay đổi môi trường sống một cách đột ngột, hài nhi phải chịu nhiều đau đớn và cả người mẹ phải chịu nỗi đau xé lòng. sự đau đớn của trẻ biểu hiện qua tiếng khóc khi mới chào đời. Ôn Như Hầu nói:
“Thảo nào khi mới chôn nhau
Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra”
Con người không chỉ được sanh ra từ sự kết hợp của cha mẹ, mà trong chính cơ thể của mìnhcác tế bào sanh diệt trong từng sát na. con người có sanh ắt có già, có chết. Đó là quy luật không ai tránh khỏi.
- Già khổ: “ Sự niên lão, sự hư hoại, trạng thái răng rung, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ rút ngắn, các căn biến hoại. Như vậy gọi là già” (Đế Phân Biệt Tâm Kinh, Trung Bộ III).
 Ở đời không ai muốn già, nhất là phụ nữ. Phép lịch sư phương Tây không cho phép ai hỏi về tuổi tác của giới nữ, vì như vậy nhắc nhở rằng họ đã hoặc đang già đi. Tuy nhiên, dù không muốn, sự già cỗi vẫn vẫn như một bản án đã định, không ai tránh khỏi, cho dù ngày nay khoa học đang nỗ lưc tìm kiếm phương pháp chống “lão hóa” ; và truyền thuyết trường sinh bất tử mãi mãi chỉ là giấc mơ đẹp mà thôi.
Nếu tuổi trẻ năng động đầy nhựa sống bao nhiêu thì tuổi về gìa khí hao sức kiệt, đau khổ bấy nhiêu. Tuổi già với các hiện tượng lưng còm, má hóp,da nhăn, mắt mờ, tai điếc. . . Điều quan trọng là sức khỏe bị cướp mất, kéo theo các thứ hạnh phúc thường tình của con người như ăn, ngủ trở nên vô nghĩa đối với họ. Mặc dù người ta tim đủ mọi cách chống lại cảnh già yếu, nhưng chiếc búa thời gian vẫn lù lù tiến lại như con ngựa bất kham không thể ngăn chặn, hủy hoại mọi nỗ lực của con người, đưa họ đến với nỗi sợ hãi lớn nhất của đời mình:CHẾT.
-    Chết khổ: dù muốn hay không thì mọi người ai cũng phải chết, sớm hay muộn cũng vậy. Đó là sự thật tàn nhẫn nhất của kiếp người. Sự cảm nhận khổ đau về cái chết thì có vẻ như mơ hồ, vì còn cảm nhận được là chưa chết, mà chết là hết cảm nhận được . Tuy nhiên, hiện tướng của cái chết thì hãi hùng vô cùng, nhất là đối với những người mang bệnh nan y, muốn chết không được, muốn sống cũng không xong. Họ co giật, rên siết, thảng thốt lúc lâm chung ai thấy cũng khiếp sơ.  
Người chết rồi thì nằm đó, nhưng cái cảnh bi thương tang tóc bao trùm, hiện rõ trên sắc mặt gia đình và người thân. Chết khổ đã đành mà sự ám ảnh của cái chết càng đáng sợ hơn, càng muốn sống bao nhiêu thì càng sợ chết bấy nhiêu. Chính tâm lý sợ hãi này làm cho người sắp lâm chung không làm chủ được tâm mình và tạo ra những cận tử nghiệp bất thiện, chính cận tử nghiệp này quyết định cảnh giới đầu thai của người hấp hối. Như vậy, sự khổ đau của cái chết tuy lớn, nhưng yếu tố tâm lý quyết định cảnh giới thác sanh của người chết mới là vấn đề quan trọng. Nếu thiếu sáng suốt, khởi lên tâm quấy ác khi mạng chung, người đó sẽ chịu sự đau khổ cả kiếp sống kế tiếp và có thể là nhiều kiếp sau nữa. Đây mới chính là khổ đau thật sự mà người Phật tử cần ý thức rõ ràng
- Oán thù gặp nhau là khổ: Người đời thường nói” nhìn thấy kẻ thù như gai đâm vào mắt”. Thế mà có khi cái gai đó cứ ở mãi suốt đời trong mắt mình, bởi có nhiều trường hợp đến chết vẫn không rời khỏi kẻ thù và bị sự thù hận hành hạ đến chết. Như những trường hợp các đảng phái chính trị, các doanh nghiệp làm ăn là đối thủ của nhau vẫn phải tồn tại bên nhau suốt thời gian dài. Quả là “tạo hóa khéo trêu ngươi”. Người Phật Tử tuy không có kè thù, nhưng sống chung với những điều trái ý nghịch lòng, những cảnh chướng tai gai mắt thì thật là một thử thách lớn cho công phu tu tập về lòng từ bi và đức tính nhẫn nhục của mình. Tuy gặp gỡ kẻ thù là khổ, nhưng không khổ bằng cảnh “cốt nhục phân ly”, dây là nỗi khổ thứ sáu.
- Yêu thương xa lìa là khổ: sanh ly tử biệt là cảnh đau lòng nhất đời người, không ai muốn xảy ra cả. Nhưng cuộc đời vốn dĩ là “quán trọ hồng trần”, khi hết thời hạn thì phải ra đi, cho dù mối dây lòng có buộc chặt đến đâu cũng không tránh khỏi nỗi đau “ đứt ruột”.
Sanh li tuy đau khổ, nhưng vẫn còn niềm hy vọng, cho dù nhỏ nhoi đến đâu là một ngày nào đó mình sẽ gặp lại người thương. Trong khi tử biệt là nỗi đau chia li mãi mãi, không một tia hi vọng được gặp lại. Đau khổ, tuyệt vọng, thậm chí muốn quyên sinh để được “đi theo” người mình thương, đủ thấy nỗi đau tinh thần lớn lao như thế nào.
- Cầu mong không được là khổ. Đức Phật gọi cõi Ta Bà này là cõi Dục, con người sanh ra ở đời này là bởi tham dục, cho nên suốt đời chạy theo những ham muốn dục vọng. Nhưng mục tiêu thì ai cũng đặt ra mà kết quả thì không mấy ai đạt được. Con người chạy theo danh lợi, được rồi mất; mất rồi được như vớt bong bóng nước, cứ lẩn quẫn mãi. Người xưa nhìn thấy cái cảnh tức cười này mà cảm khái thốt ra:
“Cái vòng danh lợi cong cong,
Kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào.
Sự đời nghĩ cũng nực cười,
Một con cá lội mấy người buông câu.”
                                        (Ca dao)
Ôn Như Hầu – Nguyễn Gia Thiều cũng nhìn thấy danh lợi chỉ là phù du như một giấc mơ vậy:
“ Mùi phú quý nhữ đàn xa mã
Bã lợi danh lừa kẻ công khanh
Giấc Nam Kha khéo bất bình
Bừng con mắt dậy thấy mình tay không”.
Con người sống thì phải có mơ ước, mà ước nguyện không thành thì sanh ra đau khổ. Đó là sự thật hiển nhiên trong cuộc sống.
- Chấp thủ Năm uẩn là khổ: đây là phần tóm kết của bảy chi phần trên. Con người được tạo ra bởi năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Trong đó, sắc uẩn thuộc về vật chất, là phần thân thể của chúng ta; còn thọ, tưởng, hành , thức chỉ cho phần tâm linh hay phần tâm thức của chúng ta.
Nỗi đau thể chất là sinh, lão, bịnh tử, đói lạnh thèm muốn. v. v. . .
Còn nỗi đau tinh thần là những tâm tư tình cảm , những ứơc vọng không thành mà sanh ra đau khổ.
Sở dĩ khổ đau tồn tại là do chúng ta sanh tâm ái nhiễm, chấp chặt vào bản thân và nhưng sự vật có hoặc không liên hệ đến ta. Cuộc sống vốn nó sanh diệt vô thường như vậy, bởi chúng ta áp đặt nguyện vọng mình vào sự vật, muốn tất cả đều theo ý mình, tức là đi trái ngược với quy luật hiển nhiên của cuộc sống, từ đó sự việc sẽ đi ngược với sự ham muốn của chúng ta dẫn đến tuyệt vọng và đau khổ là điều không thể tránh khỏi.
Tất cả khổ đau trên được biểu thị qua ba hành tướng gọi là “tổng khổ”, gồm:
-Khổ khổ(Dukkha – dukkha): chỉ muôn vạn khổ đau đang đè nặng lên kiếp người, con người muốn thoát khỏi khổ đau này lại tìm đến khổ đau khác như con thiêu thân khi đã thoát khỏi nơi tối tăm, ẩm thấp lại đâm đầu vào ngọn đèn để chết cháy, trông thật u mê đến tội nghiệp. Kiếp người cũng không khác kiếp thiêu thân là mấy, chúng sanh cứ tìm kiếm hạnh phúc như khát nước lại đi uống nước muối, khi uống có cảm giác như đã khát, thực chất uống vào rồi càng khát hơn. Cứ quanh quẩn mãi trong luân hồi sanh tử không lúc nào ra khỏi được, nếu không gặp được giáo pháp của Đức Phật.
- Hành khổ(Sanikhara – dukkha):Sự vận hành, chuyển dịch của các pháp mà sanh ra khổ đau. Tài sản, nhà cửa, ruộng vườn . . . cho đến thân bằng quyến thuộc; tất cả hôm nay là của mình, ngày mai có thể không còn nữa. Gia đình đang hạnh phúc ấm êm như vậy, bỗng đâu “tai bay họa gởi” làm cho tan cửa nát nhà, cốt nhục phân ly. Chẳng những vạn vật đều biến thiên như vậy mà trạng thái tâm lý con người cũng luôn thay đổi không ngừng, kẻ phàm phu không hiểu quy luật này mà sanh ra đau khổ .
- Hoại khổ( Viparigàma – dukkha): Hoại là sự hủy hoại, sự tàn lụi, sự diệt vong.
Về phía con người là sự già chết, thường nói là thân hoại mạng chung. Xưa nay chưa ai thoát khỏi cảnh này, định luật thời gian cứ mãi gặm nhắm con người đến khi nhắm mắt lìa đời, thịt xương trở về vời cát bụi.
Và vạn vật chung quanh chúng ta, không một vật gì mà không hư hoại; từ đồ vật, nhà cửa, ruộng vườn. . . cho đến đại địa sơn hà, tất cả chịu chung một quy luật. Một trận động đất có thể xóa xổ cả một thành phố và cướp đi sinh mạng hàng triệu người. Vũ trụ tuởng như chắc thật này cũng phải trải qua bốn giai đoạn : thành, trụ , hoại, không. Trái đất của chúng ta đang sống cũng mong manh vô cùng, khi kiếp hoại đến có thể mặt nước dâng cao nhấn chìm toàn bộ mặt đất. Hiện nay, các khu công nghiệp trên thế giới thải ra không gian lượng khí độc hại  quá nhiều, chẳng những làm môi trường sống bị ô nhiễm trầm trọng, đe dọa trực tiếp đến mạng sống nhiều tỷ người trên trái đất; mà còn làm tăng hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ trái đất cũng vì vậy tăng lên làm lớp băng ở hai miền cực Nam và cực Bắc tan chảy, khí hậu, thời tiết đảo lộn không thể lường trước đuợc, vì vậy lũ lụt, lở đất và hạn hán xảy ra khắp nơi cướp đi hàng triệu sinh mạng mỗi năm và hàng chục triệu người sống trong đói kém bệnh tật. Hoại khổ là vậy.
3. Pháp Ấn thứ ba: VÔ NGÃ ( Anatma ).
Trong khi các tôn giáo trên thế giới đều có xu hướng đề cao cái Ngã, tất cả chủ trương hoặc nhất thần, đa thần hay phiếm thần; giáo lý của họ là sự mặc khải của đấng tối cao nắm cán cân công lý và có quyền ban phước giáng họa cho bất cứ ai, thì Phật giáo dùng con mắt trí tuệ để quán chiếu vạn vật, và như thật thấy biết đúng với chân lý muôn đời rằng các pháp là duyên sinh nên vô ngã. Vô ngã trong Phật giáo cũng không hề dính dáng gì đến các triết thuyết như duy tâm, duy vật, đa thần hay nhất thần.v. v. . . chẳng duy gì cả, bởi vạn pháp không một pháp nào bản thân nó thật sự tồn tại độc lập, mà sự tồn tại của một pháp chính là sự tồn tại của nhân duyên sanh ra pháp đó. Như cái bàn chẳng hạn, sở dĩ gọi cái bàn là sự tổ hợp của các duyên như cây gỗ, nhân công, dụng cụ . . . cấu thành và đặt tên cho nó là “cái bàn”, thực chất cái bàn tự nó không thể sanh ra và tồn tại được; khi nhân duyên tạo ra cái bàn tan rã ta gọi là cái bàn hư hoaị , và như vậy, không có cái bàn nào hư cả, mà nhân duyên sinh ra nó không con tồn tại nữa mà thôi.
III. NHÌN NHẬN VÀ TU TẬP ĐÚNG VỀ TAM PHÁP ẤN.
    Đức Phật phân tích chi li về vô thường, khổ đau không phải như một số người thường nói là có cái nhìn bi quan về cuộc đời , mà nói về khổ chính vì giúp con người có đầy đủ can đảm để đối mặt với hiện thực, không thể lẩn tránh được. Khi đối mặt với hiện thực cuộc đời chúng ta mới tìm ra phương pháp giải thoát khổ đau. Đức Phật dạy: “Ai như thực thấy được khổ đau, người đó cũng như thật thấy được nguyên nhân của khổ đau và con đường đưa đến giải thoát khổ đau”. Như vậy, thấy được hiện thực khổ đau của cuộc đời là cái nhìn đầy trí tuệ, phù hợp với chân lý. Nó không liên hệ gì đến bi quan hay lạc quan, tích cực hay yếm thế tiêu cực. Bi quan hay lạc quan là thái độ sống của con người , không thể nói sự thật là bi quan hay lạc quan được. Ví dụ, anh hỏi tôi 1+1 = mấy; tôi trả lời anh 1+1=2. anh không thể bảo tôi là kết quả tôi giải đáp “ sao mà bi quan quá vậy”. Vấn đề là đúng hay sai chứ không phải bi quan và lạc quan. Khổ đau cũng vậy.
Mặt khác, khi nói về vô thường, nhiều người lại cho rằng: vô thường là khổ đau. Bản thân vô thường không mang tính khổ đau hay hanh phúc. Khổ đau, hạnh phúc là do cảm thọ của chúng ta mà có, còn vô thường là quy luật biến đổi hiển nhiên của cuộc sống. Bởi chúng ta có cách nhìn không đúng sự thật về vô thường, từ đó sanh ra chấp thủ về ngã và pháp, trái với quy luật biến hóa sinh diệt của cuộc đời. vì vậy, khi vô thường đến, làm sụp đổ mọi nhận định, toan tính, kỳ vọng của chúng ta; đó mới chính là khổ đau. Kinh pháp cú dạy “Đây là con ta. Đây là tài sản của ta. Người ngu thường nghĩ như vậy nên sanh ra đau khổ; nhưng họ không biết rằng, chính ta còn không thật có huống là con ta hay tài sản của ta”. Đức phật dạy về vô thường nhằm mục đích khuyến hóa chúng sanh đừng lầm chấp về ngã và pháp, tất cả đều không bền chắc, nay còn mai mất. Thay vì chấp chặt về các pháp giả hợp này thì hãy diệt trừ ái, thủ, vô minh. Khi vô minh diệt hết rồi thì tánh bất sanh bất diệt tự nhiên hiển lộ ngay trong tự tâm của mình, lúc này khổ đau không còn chỗ  để tồn tại nữa. Trong  Mi Tiên Vấn Đáp có ghi lại lời đối thoại giữa Đức Thế Tôn với vua Ba Tư Nặc, khi nhà vua hỏi Đức Phật giữa cuộc đời sanh diệt này có cái gì là bất sanh bất diệt không.
Đức Phật hỏi:
-    Bệ hạ năm nay bao nhiêu tuổi rồi?
-    Bạch Thế Tôn trẫm năm nay 69 tuổi
-    So với hồi còn trẻ bệ hạ thấy như thế nào?
-    Lúc còn trẻ, khí huyết sung mãn, tay chân lanh lợi, đầu óc minh mẫn, tóm lại, sức sống dồi dào, khỏe mạnh. Còn bây giờ khí huyết khô cạn, sức khỏe suy nhược, lưng còng, gối mỏi, da nhăn, khắp thân thể đều đau nhức, cơ hồ như sắp chết đến nơi.
-    Bệ hạ nhìn thấy lúc còn nhỏ đến giờ, sông Hằng có thay đổi gì chăng?
-    Lúc còn nhỏ, mẫu hậu thường dẫn trẫm ra sông Hằng tế lễ, trẫm nhìn thấy sông hằng từ đó đến giờ vẫn không có gì khác.
-    Đức Phật dạy : con người có trẻ có già, có chết mà sông hằng không thay đổi. Cũng vậy, bệ hạ có trẻ có già, nhưng tánh thấy của bệ hạ thì không có già. Đó là cái bất diệt trong sanh diệt.
Qua thí dụ trên cho chúng ta thấy, giữa cuộc sống khổ đau sanh diệt, nếu chúng ta cố gắng tu tập theo giáo pháp của Đức Phật, thì chúng ta một ngày nào đó sẽ nhận ra bản tánh bất sanh bất diệt của mình. Bản tánh đó ở ngay giữa luân hồi sanh diệt mà không bị vô thường chi phối.
Khi nói đến vô ngã, chúng ta phải nói đến Năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc uẩn thuộc vật chất, gồm hai phần: Nội sắc và Ngoại  sắc.
Nội sắc là tứ đại cấu thành cơ thể chúng ta, gồm: đất, nước, gió, lửa. Những thứ mang tính chất cứng như răng, tóc, móng, xương, gân. . . thuộc về địa đại. Các chất lỏng trong cơ thể như máu, nước mắt, mồ hôi . . . thuộc thủy đại. Hơi ấm , nhiệt độ trong cơ thể là hỏa đại. Và hơi thở ra vào, sự lưu thông không khí, ôxy trong máu thuộc phong đại.
Tương tự, ngoại sắc gồm đất, nước, gió, lửa cấu thành vũ trụ, trái đất và môi trường sống của chúng ta. Nội sắc và ngoại sắc liên hệ với nhau mật thiết, khi thời tiết( ngoại sắc) thay đổi, chuyển mùa thì cơ thể( nôị sắc) cũng có những biến chuyển theo. Bởi vậy, mỗi khi thời tiết thay đổi, con người hay mắc phải các chứng cảm cúm sổ mũi, thương hàn. . . nhất là người thiếu sức khỏe và người già.
Bốn chi phần còn lại của ngũ uẩn: thọ, tưởng, hành, thức thuộc về tâm. Sở dĩ phân chia nội tâm làm bốn phần là căn cứ vào sự biến động của tâm khi tiếp xúc với trần cảnh. Thọ là cảm nhận sự vui, khổ; hoặc không vui , không khổ(xả thọ) của tâm khi năm căn tiếp xúc với năm trần. Tưởng là hồi tưởng, kí ức, tức là những sự kiện đã xảy ra rồi, bây giờ hồi tưởng lại. Hành là sự vận hành của tâm, duyên theo sáu trần mà sanh tâm động niệm. Thức chính làsự nhận biết, phân biệt của tâm khi tiếp xúc với với sáu trần. . Đức Phật dạy: “Không liễu tri Năm uẩn thì không thể đoạn tận khổ đau. Do vậy, cần liễu tri năm uẩn, sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si được gọi là liễu tri”. (Tuơng Ưng Bộ III). Dù cho hành giả tu theo phương pháp nào đi nữa, nếu không thật sự liễu tri năm uẩn là duyên sinh vô ngã thì dứt khoát khổ đau vẫn tồn tại.
    
C . KẾT LUẬN.
Tuy nói về vô thường, khổ, vô ngã; thực chất do tham ái mà sanh khổ đau. Trong tham ái đã chứa đựng duyên sinh vôngã, cho nên hành giả có chánh kiến, liễu tri một trong ba pháp ấn sẽ thấy được bản chất của khổ, nguyên nhân của khổ và con đường đưa đến giải thoát khổ đau. Như trong Tương Ưng Bộ Kinh III, Đức Phật dạy:
“ Này các thầy tỳ kheo, cái gì được thấy, được nghe, được nghĩ đến, được biết, được tìm cầu, được tư duy; cái ấy là thường hay vô thường?
-    Là vô thường, bạch Đức Thế Tôn.
-    Cái gì vô thường là khổ hay vui?
-    Bạch Đức Thế Tôn, là khổ.
-    Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thì có thể khổi lên suy nghĩ “ cái này làcủa tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi” được không?
-    Bạch Đức Thế Tôn, không.
-    Do vậy, này các thầy tỳ kheo, thân năm uẩn này, quá khứ, hiện tại, vị lai; hoặc ở trong thân hay ở ngoài thân, thô hay tế, thắng hay liệt,xa hay gần, cần phải được như thật quán với chánh trí như sau “ cái này không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”.
 
                                                                                                                           Tài liệu tham khảo
 


 




chi em phu nu, game, game, tin game, kgamevn, tin game thu, suc khoe tong hop, gamek, tin game hay, tin game, game viet nam, game, game, game thu viet, chi em phu nu, game, game hay, tin moi, suc khoe doi song, game thoi trang hay 2014, choi game dua xe hay, ban sung hay, tin tuc, xem phim, game mien phi, game hay nhat